Bài đăng phổ biến

Page Nav

HIDE

Page Nav

HIDE

Grid Style

GRID_STYLE

Grid

GRID_STYLE

Post/Page

Effects

TRUE

Pages

Weather Location

Classic Header

{fbt_classic_header}

Breaking News:

latest

Phần 5 - Cập nhật lại bản dịch Hải Tặc Trung Hoa của thầy Ngô Bắc

Phần 5 - Cập nhật lại bản dịch Hải Tặc Trung Hoa của thầy Ngô Bắc #cap_nhat_lai_ban_dich_Hai_Tac_Trung_Hoa_Ngo_Bac Lưu ý: Tác giả Dian Murra...

Phần 5 - Cập nhật lại bản dịch Hải Tặc Trung Hoa của thầy Ngô Bắc

#cap_nhat_lai_ban_dich_Hai_Tac_Trung_Hoa_Ngo_Bac

Lưu ý: Tác giả Dian Murray đã viết sai hầu hết các năm tháng, dữ kiện, đánh giá trong đoạn văn này.

[Các trận chiến Tây Sơn chúa Nguyễn liên quan đến quân hải tặc Trung Hoa]

Chính Trần Thiêm Bảo đã chỉ huy cuộc tiến quân vào bờ biển tỉnh Khánh Hòa hồi tháng Bảy năm 1797.  Quân [chúa] Nguyễn đã đối đầu bằng cách rải quân dọc theo bờ biển, sử dụng các thuyền buồm để bao vây một trong các hải cảng, và phát động một cuộc tấn công cả trên đất liền lẫn từ ngoài biển, trong đó họ đã giết hại được nhiều địch quân (1).  Vào năm 1798, các thuyền buồm hải tặc Trung Hoa một lần nữa được ghi nhận xuất hiện bên ngoài hải phận tỉnh Khánh Hòa.  Khi vị chỉ huy của đồn quân gần đó, tại Diên Khánh nghe [báo] về sự xuất hiện của chúng, ông đã phát động một cuộc truy kích và bắt giữ được hai trong số các thuyền buồm của chúng (2).

Vào năm 1799 chiến sự tập trung quanh Quy Nhơn, nơi một lần nữa hải tặc Trung Hoa cố phòng thủ.  Giai đoạn đầu của chiến dịch xảy ra tại Huế, nơi mà một đội tiên phong của chúa Nguyễn bao gồm lục quân, pháo binh và các thớt voi, dưới sự chỉ huy của Tướng Tống Phước Lương, đã bị đối đầu bởi Phàn Văn Tài (vào lúc này cũng là một "tướng lãnh").  Cuộc chiến xảy ra dữ dội, nhưng chung cuộc các lực lượng của họ Phàn đã chứng tỏ [rằng họ] không phải là đối thủ của quân [chúa] Nguyễn (3).  Sau đó kẻ chiến thắng Tống Phước Lương quay về Quy Nhơn, nơi ông và Nguyễn Phước Ánh đã chiếm hải cảng trước sự chống trả của các hải tặc (4).  Hai cuộc thất trận này, cùng với những thất bại trước đây tại Khánh Hòa, đã làm suy yếu một cách đáng kể sức mạnh của quân hải tặc và đưa đến nhiều sự đào ngũ [của quân hải tặc]. 

[Tuy vậy], cuộc thất trận thảm bại nhất vẫn chưa xảy ra.  Vào tháng Bảy, các lực lượng phe chúa Nguyễn, sau khi dành được lối tiếp cận vào tòa thành, đã chiếm đoạt được [thành] Quy Nhơn, nơi họ đặt tên lại là Bình Định (5).  Họ ở lại đó cho đến tháng Mười Một năm 1799, khi mà sự qua đời của vị cố vấn quân sự lâu năm của Nguyễn Phước Ánh, đức giám mục Adran, Pigneau de Behaine [Brian chú: Bá Đa Lộc], đã buộc họ phải gửi các lực lượng chính quy về lại miền Nam (6).  Một hạm đội dưới quyền Tổng binh Võ Tánh [Brigade-General Võ Tánh] [7) đã được lưu lại phòng vệ hải cảng ở đó, cửa Thị Nại, để chống lại hải tặc. 

Không chùn bước trước sự bại trận, quân Tây Sơn đã mở lại cuộc chiến tái chiếm Quy Nhơn (Bình Định) hồi đầu năm kế tiếp bằng việc phái một hạm đội khổng lồ đến Thị Nại.  Chí có ít tin tức về nguồn gốc của nó, nhưng phần lớn các chiến thuyền có vẻ là của quân hải tặc, do Tổng Đốc Lưỡng Quảng đã báo cáo [cho Thanh triều] rằng hơn 100 chiếc thuyền buồm hải tặc từ Quảng Đông khi đó có mặt tại Việt Nam.  Để đương đầu với sự thách đố này, Nguyễn Phước Ánh đã tập hợp một lực lượng khoảng 1,200 chiến thuyền và [đội quân] 80,000 người.  Với 4 chiếc tàu của Âu Châu, 40 chiếc thuyền buồm chiến loại lớn (40 large war junks), và hơn 300 chiếc thuyền chiến galleys, đó là một lực lượng hải quân đáng gờm nhất chưa từng thấy trong khu vực (8).  Quân Tây Sơn bao vây [thành] Quy Nhơn đến gần một năm.  Mặc dù quân Tây Sơn không bao giờ tái chiếm lại được đô thị này, họ đã thành công trong việc chiếm đóng được thị trấn gần đó, [là] Phú Yên, và nhờ đó, [mà họ] đã có thể thiết lập được 48 đồn bảo kiên cố và tuyển mộ nhân lực tại địa phương.  Tuy thế, sự kiểm soát của quân Tây Sơn tại Phú Yên chỉ kéo dài trong thời gian ngắn.  Do sự phản bội của một viên chức vốn thuộc [phe] Tây Sơn, thị trấn này sớm bị mất lại về tay phe [chúa] Nguyễn (9).

[Và] trong một phần [chiến lược] tiến đánh này của Tây Sơn, 12 chiếc thuyền buồm hải tặc Trung Hoa đã được phái xuống phía nam để lấn vào Yên Cương Úc (煙崗澳 Vịnh Mây Nước; cũng còn được gọi là vịnh Vân Phong hay Hòn Khói), nhưng các sứ mệnh [xâm lấn] này của họ đã phải bỏ dở khi quân [chúa] Nguyễn chặn đứng không cho lên bờ (10).  Vào tháng Bảy, quân hải tặc bắt giữ một số các thương thuyền và các thuyền buồm chở muối, bao gồm cả một chiếc thuyền chuyên chở đạn dược và đồ tiếp liệu cho quân [chúa] Nguyễn (11).  Khi tin tức về các biến cố này đến tai Nguyễn Phước Ánh, ông đã tức thời ra lệnh cho Nguyễn văn Trương và [một] hạm đội gồm 50 chiến thuyền của ông ta phát xuất đi truy kích.  Ít tháng sau, 11 chiếc thuyền buồm hải tặc, bị thổi ra biển bởi một cơn bão, đã bị triệt hạ bởi các tàu vũ trang (12).

---

(1) Không hiểu tác giả đã dựa vào sử liệu nào về việc Trần Thiêm Bảo chỉ huy cuộc tiến quân vào bờ biển tỉnh Khánh Hòa hồi tháng Bảy năm 1797 ? Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhất Kỷ Quyển IX, vào tháng 7 năm 1797, "Mùa thu, tháng 7, sai Phó tướng Hậu quân Nguyễn Văn Biện và Binh bộ Nguyễn Đức Thiện đem quân vào cửa biển Hiệp Hòa, đóng đồn ở Bến Ván [Bản Tân] để ngăn đường cứu viện của giặc từ Quy Nhơn đến. Vua mật dụ Khâm sai thống binh cai cơ Hoàng Công Khanh và Khâm sai cai đội Tôn Thất Lịch đem chi quân ứng nghĩa Quảng Nam lệ theo để sai bát. Bọn Cai cơ Nguyễn Văn Soạn và Cai đội Lê Văn Nhị cũng xin về Quảng Ngãi chiêu lập nghĩa binh để theo đánh giặc.".  Như vậy theo Đại Nam Thực Lục, sử kiện này xảy ra ở cửa biển Hiệp Hòa thuộc Quảng Nam, và đoàn quân Tây Sơn đến từ Quy Nhơn, nên không có việc quân Tây Sơn đã đến bờ biển Khánh Hòa vào tháng Bảy năm 1797 như tác giả đã viết.

Và đoạn sử kiện "trong đó họ đã giết hại được nhiều địch quân" không hề là do sự tấn công chủ động của phe [chúa] Nguyễn.  Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhất Kỷ Quyển IX, vào tháng 7 năm 1797, "Đô đốc giặc là Lê Văn An lại đem quân đánh bảo Trạm Dã [Đồng Trạm]. Bọn Nguyễn Văn Thịnh đón đánh, phá được, giặc chết và bị thương rất nhiều, bèn  phải rút lui, không dám phạm nữa. Vua khen là dũng cảm, thưởng cho 1.000 quan tiền.".  Như vậy ở đây, quân [chúa] Nguyễn đã kháng cự lại sự tấn công của quân Tây Sơn, chứ không là sự tấn công chủ động vào quân Tây Sơn như tác giả đã viết.

Hơn thế nữa, vì sự ngăn chặn của hải tặc mà quân lương của quân [chúa] Nguyễn không tiến lên được, nên [chúa] Nguyễn Phước Ánh đã ra lệnh cho binh quân rút lui trong trận này.  Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhất Kỷ Quyển IX, vào tháng 7 năm 1797, "Trương Phước Luật hộ vệ thuyền lương bị ngược gió, lâu không đến được, nhiều lần chạy ra biển lại bị giặc biển ngăn chặn không đến được. Trong quân chỉ còn có 5 ngày lương.  Vua cho rằng đại binh vào sâu đất giặc mà quân nhu không tiếp tế được, bèn dụ các tướng đem quân về".

Như vậy trận này không xảy ra ở Khánh Hòa, mà là ở Quảng Nam.  Và trong trận này, quân [chúa] Nguyễn đã đem quân vào cửa biển Hiệp Hòa, Quảng Nam để đối phó với quân cứu viện Tây Sơn từ Quy Nhơn đến.  Quân Tây Sơn tấn công và bị quân phòng thủ [chúa] Nguyễn giết hại nhiều tại bảo Trạm Dã (nay thuộc Hòa Vang Quảng Nam].  Tuy nhiên, quân [chúa] Nguyễn cũng không tiến lên được để đánh đuổi quân Tây Sơn vì các thuyền bè quân lương [chúa] Nguyễn bị hải tặc ngăn chặn nên [chúa] Nguyễn Phước Ánh đành ra lệnh rút lui vì thiếu lương thực.  Với đoạn văn trên, tác giả đã không viết đúng và đủ về trận này như các sử kiện trên đã nêu ra.   

(2) Tác giả đã viết sai tên địa danh Diên Khánh thành Dinh Khánh.  Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhất Kỷ Quyển X, vào tháng 3 năm 1798 "Giặc biển Tề Ngôi đóng ở phần biển Cù Huân. Lưu trấn Diên Khánh Nguyễn Văn Thành nghe báo, sai bọn Cai cơ Lê Quang Tường đem quân đuổi theo bắt, tới Diên áo [Vũng Diên] bắt được hai chiếc thuyền, còn thì chạy thẳng về đông. Vua thưởng cho bọn Tường các thứ nhiễu 2 tấm, sa mát 4 tấm và tiền 100 quan.".

(3) Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhất Kỷ Quyển X, vào tháng 5 năm 1799, "Quản vệ Phấn dực là Tống Phước Lương đánh phá được thống binh giặc biển Tề Ngôi là Phàn Văn Tài ở cửa biển Kim Bồng, đuổi đến Phú Yên lại đánh được.".  Cửa biển Kim Bồng nay là cửa biển Tam Quan Bình Định, không là ở Huế như tác giả đã viết.

(4) Câu viết "Sau đó kẻ chiến thắng Tống Phước Lương quay về Quy Nhơn, nơi ông và Nguyễn Phước Ánh đã chiếm hải cảng trước sự chống trả của các hải tặc." là sai.  Như phần (3) đã nêu ra, tướng Tống Phước Lương đánh bại quân Phàn Văn Tài ở cửa biển Kim Bồng (nay là cửa biển Tam Quan Bình Định), rồi đuổi đến Phú Yên thì lại đánh bại quân Phàn Văn Tài một lần nữa.  Trong 2 trận đánh thắng này, sử Đại Nam Thực Lục không hề chép có sự tham gia của [chúa] Nguyễn Phước Ánh.  Và hải cảng thứ 2 mà tác giả nhắc đến ở đây là ở Phú Yên theo sử Đại Nam Thực Lục, chứ không là Quy Nhơn, viết rõ hơn là hải cảng Thị Nại, như tác giả đã viết.

(5) Theo sử Đại Nam Thực Lục, sử kiện đoạt thành Quy Nhơn của quân [chúa] Nguyễn diễn ra vào tháng 6 năm 1799, chứ không là tháng 7 năm 1799 như tác giả đã viết.

(6) Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhất Kỷ Quyển XI, vào tháng 9 năm 1799, "Sai quản năm đồn quân Thần sách là Phạm Văn Nhân, quản dinh Trung thủy là Võ Di Nguy và Công bộ Trần Văn Thái thống lãnh các hạng thuyền ghe, theo Đông cung Cảnh về Gia Định trước", và sau khi sắp xếp cùng tháng này, "Vua sắp khải hoàn, sai chưởng Hậu quân Võ Tánh thống lãnh bản dinh và các tướng sĩ vệ Võ lương Trung chi Hữu quân, đội Thuộc viên Trung chi Tiền quân, Tả chi Túc uy dinh Tiên phong, năm đồn quân Ngự lâm, hai vệ Thiên trường và Tín trực, cùng một vạn quân Xiêm, hiệp cùng Lễ bộ Ngô Tòng Chu lưu trấn thành Bình Định, bọn Tham tri Hộ bộ Trịnh Hoài Đức, Tham tri Lễ bộ Nguyễn Cửu Hành, Tham tri Binh bộ Hồ Văn Định, Tham tri Hình bộ Nguyễn Hoài Quỳnh đều theo lưu trấn thần, trông coi các việc binh dân, tiền thóc và kiện tụng.".

Như vậy, tác giả đã sai khi viết rằng quân [chúa] Nguyễn rút về miền Nam do nguyên nhân là sự qua đời của đức Giám Mục Bá Đa Lộc qua đời vào tháng 11 năm 1799, vì theo sử Đại Nam Thực Lục, quyết định rút quân chính quy về Gia Định của chúa Nguyễn Phước Ánh đã có từ tháng 9, chứ không là do sự qua đời của đức Giám Mục Bá Đa Lộc vào tháng 11 mà nên.

(7) Tác giả đã sai về chức hàm của Võ Tánh vào thời kỳ này (năm 1799).  Theo đoạn Đại Nam Thực Lục được trích ở chú thích (6) trên, thì khi ấy, Võ Tánh đang giữ chức Chưởng Hậu quân tức là Marshal of King's Rear Division, chứ không chỉ là Tổng Binh (Bridage-General) như tác giả đã viết.

(8) Về lực lượng của phe chúa Nguyễn, thì tác giả viết theo tư liệu từ Maybon và John Barrow.

Theo tư liệu từ quyển A Voyage to Cochinchina của John Barrow trang 274 (là tư liệu mà tác giả đã dùng), thì "In the course of these two years he constructed at least 300 large gun-boats or row-gallies, five luggers, and a frigate on the model of an European vessel. He caused a system of naval tactics to be introduced, and had his naval officers instructed in the use of signals. One of the English gentlemen, whom I mentioned to have been at Sai-gong in the year 1800, saw a fleet of ships consisting of 1200 sail, under the immediate command of this Prince, weigh their anchors and drop down the river in the highest order, in three separate divisions, forming into lines of battle, in close and open order, and going through a variety of manoeuvres by signals as they proceeded along.".

Như vậy ở đây, lực lượng của chúa Nguyễn được "kể lại" từ lời nói của một người Anh Quốc có mặt ở Sài Gòn vào hai năm 1799 và 1800 (xem trang 271 đoạn "The material facts have, indeed, been corroborated by the testimony of two English gentlemen, who visited Sai-gong in the years 1799 and 1800.").  Và theo lời người Anh Quốc này, thì lực lượng của phe chúa Nguyễn lúc bấy giờ vào năm 1800 là có ít nhất có 300 chiến thuyền lớn chèo tay, 5 chiến thuyền lugger, một tàu chiến frigage dựa vào mô hình tàu chiến Âu Châu, và ông thấy được một hạm đội tàu gồm 1.200 chiếc tàu.  

Còn tư liệu Maybon [là một tư liệu khác mà tác giả đã dùng] viết ra sao thì sau này ai đó tra, xin viết thêm.

(9) Tác giả đã sai khi viết "Do sự phản bội của một viên chức vốn thuộc [phe] Tây Sơn, thị trấn này sớm bị mất lại về tay phe [chúa] Nguyễn.".  Theo sử Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhất Kỷ Quyển XII, vào tháng Giêng năm 1800, "Hàng tướng là Phó trưởng chi chi Tiền du Trung quân Phạm Văn Điềm làm phản, chiếm giữ Phú Yên. Khi quân Tây Sơn đến Bình Định, Võ Tánh truyền hịch triệu hết quan quân ở Phú Yên về họp. Trưởng chi Hậu chi Nguyễn Văn Nguyện đã chở tiền lương đi trước. Lưu thủ Hồ Đức Vạn bèn sai Điềm cùng Trưởng chi Thái Văn Long đem quân chi Tiền du tiến theo, còn tự mình mang thuộc quân đi sau, đêm vượt đèo Cù Mông. Điềm cùng với đảng là bọn Đô úy Đỗ Văn Nguyệt, Ngô Văn Huyền, Đô ty Nguyễn Văn Súy, Hoàng Văn Trang mưu phản, nhân lúc Vạn không ngờ mà đánh úp. Long chạy về Bình Định, Vạn không biết kết liễu thế nào. Cai bạ Trần Minh Đức, Ký lục Võ Đức Thông và Trưởng chi Hữu chi Phan Văn Tự đều ở sau, nghe có biến thì lui chạy về thành Diên Khánh. Điềm bèn giữ Phú Yên, thông với giặc. Diệu, Dũng sai Điềm làm án trấn, biên hết dân làm binh, chia đặt đồn sở để chống viện binh của ta.".

Như vậy ở đây, chính vì sự phản bội của hàng tướng Phạm Văn Điềm, mà phe chúa Nguyễn mất Phú Yên, chứ không là do Phạm Văn Điềm, mà phe chúa Nguyễn đã lấy lại được Phú Yên.  Hơn thế nữa, đến tháng 5 cùng năm, tức là 4 tháng sau khi hàng tướng Phạm Văn Điềm chiếm Phú Yên, quân [chúa] Nguyễn mới có thể hợp nhau đánh bật quân Tây Sơn ra khỏi Phú Yên, nên câu viết của tác giả "Tuy thế, sự kiểm soát của quân Tây Sơn tại Phú Yên chỉ kéo dài trong thời gian ngắn" là không đúng.

(10) Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhất Kỷ Quyển XII, vào tháng 4 năm 1800, "Đảng giặc là giặc biển Tề Ngôi đem 12 chiếc thuyền lấn vào vũng Hòn Khói. Phó trưởng chi chi Tiền du Thắng võ là Trần Văn Duyên đem quân đón đánh, giặc không lên bờ được, lại đem thuyền ra biển.".

(11) Theo Đại Nam Thực Lục, sự kiên quân Tề Ngôi cướp bóc thuyền chở thuốc đạn của quân [chúa] Nguyễn đã diễn ra vào tháng 6 năm 1800, chứ không là tháng 7 năm 1800 như tác giả đã viết.  Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhất Kỷ Quyển XII, vào tháng 7 năm 1800,  "Thuyền chiến của Phó giám thành sứ Nguyễn Văn Yên chở thuốc đạn và vật công từ Cù Huân ra, trên đường gặp bọn giặc biển Tề Ngôi cướp; thuyền sai Bình Thuận chở cá mắm cũng phần nhiều bị đón cướp.  Nghe tin báo, vua sai Nguyễn Văn Trương đem 50 chiếc thuyền sai đi ra Thổ Dữ [Hòn Đất] dò bắt.".

(12) Câu viết "Ít tháng sau, 11 chiếc thuyền buồm hải tặc, bị thổi ra biển bởi một cơn bão, đã bị triệt hạ bởi các tàu vũ trang" là sai.  Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhất Kỷ Quyển XII, vào tháng 11 năm 1800, "Đảng giặc là giặc biển Tề Ngôi đem 11 chiếc thuyền đậu ở cửa biển Tân Quan, gặp bão, cột buồm gẫy hết, lênh đênh ngoài biển, có một chiếc dạt vào Phủ áo [Vũng Đuối], quân tuần biển của ta bắt được. Vua sắc cho các trấn giữ cửa biển của ta bắt được. Vua sắc cho các trấn giữ cửa biển thuộc Phú Yên đều sửa soạn binh thuyền để đón bắt.".  Như vậy từ tháng 6 đến tháng 11 năm 1800, quân [chúa] Nguyễn truy đuổi hải tặc, và mãi đến tháng 11 cùng năm, mới có tin 11 chiếc thuyền hải tặc gặp bão, lênh đênh ngoài biển, và quân [chúa] Nguyễn bắt được 1 chiếc, nên chúa Nguyễn Phước Ánh sắc cho các trấn giữ cửa biển thuộc Phú Yên sửa soạn binh thuyền để đón bắt nếu gặp các chiếc thuyền hải tặc khác đang lênh đênh ngoài biển mà có dạt vào hải phận Phú Yên.

Rồi theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhất Kỷ Quyển XIII, vào tháng 4 năm 1801, "Thuyền đảng giặc là bọn giặc biển Tề Ngôi bị gió dạt đến ngoài biển Thị Nại. Sai hai vệ Nội trực và Túc trực đuổi theo, bắt được Đông Hải vương nguỵ là Mạc Quan Phù, thống binh là Lương Văn Canh và Phàn Văn Tài cùng bè đảng rất nhiều.".  

Như vậy kết cuộc của các hải tặc Trung Hoa này là thuyền bị bão, lênh đênh ngoài biển vài tháng, rồi bị quân [chúa] Nguyễn đuổi theo bắt được, và các thủ lãnh hải tặc bị bắt trong sử kiện này là Mạc Quan Phù, Lương Văn Canh và Phàn Văn Tài, sau này họ đã bị sứ đoàn [chúa] Nguyễn giải sang trao trả lại cho nhà Thanh.  Nên không hề có việc "Ít tháng sau, 11 chiếc thuyền buồm hải tặc, bị thổi ra biển bởi một cơn bão, đã bị triệt hạ bởi các tàu vũ trang" như tác giả đã viết.


Brian







Không có nhận xét nào

Nội Bật